Yếm – Wikipedia tiếng Việt

Một chiếc yếm thêu cho bé trai Trung Hoa, thập niên 1950 .
Đàn bà và đứa trẻ mặc yếm, TP.HN 1900 – 1915 .
Hai cô mặc yếm giả cổ, 2008 .

Yếm (Hán Tự đâu tử兜子,Nôm裺 hoặc 𧞣) là vuông vải che ức của nữ giới và Thiếu nhi ở Đông Á Văn hóa quyển.

Áo cổ khoét tròn là yếm cổ xây, cổ nhọn như chữ V là yếm cổ xe, đáy chữ V khoét sâu hơn là yếm cổ nhạn. Trang trọng, nam giới cũng mặc yếm là nội y, trung y là áo trường vạt, hạ y là mã khố(馬袴)(quần dài đáy xẻ trước sau). Nếu mặc vạt áo dài che đi hạ bộ hoặc có giáp thì hạ y là độc tị côn (犢鼻褌)(quần ngắn xẻ 2 bên). Nếu là quân binh, xã viên thì hạ y là đậu khố (豆袴)(quần ngắn). Nếu là nông dân(đội xuân lôi tiểu lạp), ngư dân(đội ngư lạp), quân luyện tập binh khí(đội đinh tự cân huyền sắc), mã vệ quân, nghi trượng quân(đều đội trạo lạp đính hắc mao) có thể mặc khố(袴)(dải nhuyễn che hạ bộ như con lươn). Nữ giới mặc nội y là yếm, trung y là 1 đến 3 sắc áo bù long hoặc áo tràng vạt, hạ y là thường ngoại vi quần(váy đụp)trong. Nếu là trẻ nữ bần hàn, thị nữ thì mặc tiểu y(小衣)(váy ngắn). Nếu là nông dân,ngư dân mặc côn (裩)(váy được sắn cố định). Nếu là cô đầu, dật sinh(佾生), vũ nữ, kĩ sinh diễn trò Xuân phả thì mặc hoành lặc khố (横勒袴)(dải gấm thêu 7 sắc hoa văn chia nhiều thùy lưu quanh nhuyễn).

Theo sử ký, yếm phát sinh từ thói quen ăn mặc của Dương quý phi nhà Đường[1], được gọi là Đỗ-đâu (肚兜, Belly wrap), Đâu-đỗ (兜肚, Wraps the belly), Đâu-đâu (兜兜, Wrappy, Little wrap). Tuy nhiên, các chứng tích khảo cổ đã xác thực thứ áo che vú xưa hơn của đàn bà thời Tần, gọi là Tiết-y (褻衣).

Vào thời Minh, những bé gái mở màn mặc yếm từ khi lên ba tuổi. Quanh áo thường buộc những túi nhỏ đựng gừng, xạ hương và những loại thảo mộc khác để điều hòa khí trong khung hình. Thời này, yếm luôn được nhuộm đỏ với ý niệm xua đuổi tà ma của tín ngưỡng dân gian Nước Trung Hoa. Nhưng sang thời Thanh, yếm lại thêm công dụng ép cho phẳng ngực, do đó luôn được may bó chặt lấy thân. Mãi đến năm 1927, mới có luật cấm lối cắt may đó sau nhiều thập kỷ tranh cãi nóng bức, một sắc lệnh được phát hành thứ nhất tại Quảng Đông và từ đó nhân rộng ra toàn Hoa lục .Hiện nay, yếm trở thành đối tượng người dùng ưu chuộng khai thác của ngành thời trang Tây phương, gồm những thương hiệu trứ danh như Versace [ 2 ], Versus [ 3 ], Miu Miu [ 4 ]. Xu hướng này thậm chí còn đã dội ngược vào xã hội Hoa lục, nhiều nhà phong cách thiết kế thời trang, gồm cả nữ minh tinh Chương Tử Di, đã phối hợp mặc yếm với quần áo thể thao [ 5 ] [ 6 ]. Nhiều người Trung Hoa lão thành ( đôi lúc còn nghiêm khắc ) đã kịch liệt phủ nhận sự cải cách đó [ 7 ] [ 8 ] .

Bé trai thường mặc yếm đào và đóng khố.Ví dụ trọng tích Momotaro(桃太郎)

Yếm là một miếng vải mỏng dính có khổ vuông, hai đầu nhọn đính dây để nẹp vào cổ và eo cốt bịt kín từ vú đến rốn, hở nách. Trẻ con khi mới sinh thường được mặc yếm đỏ để chúc phúc và tránh tà, khi đến tuổi trưởng thành thì chỉ nữ lưu còn dùng yếm .

Ngoại trừ màu chính hoàng là đặc quyền của hoàng đế, các màu khác tùy theo. phổ thông nữ giới ưa dùng các màu trắng, mỡ gà, điều, bã trầu, hoa cà, nâu, cũng có các màu nõn chuối, cánh trả, gốm nhưng hiếm hơn. Cứ theo thi phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十戒孤魂國語文) của tác giả Lê Thánh Tông, các hoa nương thường chuộng mặc “yếm chéo cánh, cạnh thêu”, có màu “lục cổ vẹt, đỏ tiết dê, xống dang chân thắt đáy”.Độc đáo nhất,Tiện phục của Mệnh phụ có trâm bướm yếm đào thêu hoa văn Kết hợp 3 sắc áo bổ long,vi quần và 2 sắc nhuyễn tạo nên bộ y phục đầy đủ ngũ hành,tạo vẻ kì lệ như hồ điệp tiên nữ.Đây có thể là bản y để tạo nên áo tứ thân Thời Nguyễn

Người giàu sang dùng yếm dệt từ lụa hoặc thổ cẩm, dân hạ lưu chọn những loại vải kém bền hơn như bông, tơ chuối. Mặt yếm hoàn toàn có thể thêu hoa, bướm hoặc uyên ương, trường hợp đặc biệt quan trọng hơn là con dơi ( phúc ), quả ổi ( lộc ), quả đào ( thọ ) hoặc những biểu lộ đạo đức .Suốt thời Minh – Thanh, do những tiêu chuẩn đạo đức ngày càng bảo thủ nên yếm được tận dụng để ép phẳng ngực đàn bà ; những nhà quyền quý và cao sang thường may bằng vật liệu vải dày hoặc đồng, bạc, vàng, đôi lúc còn đính thêm cườm hoặc kim tuyến. Ngoài ra, phần nách áo cũng được nới rộng để trùm kín hơn trước. Đến nay chỉ còn thứ yếm của người An Nam còn giữ được những nét nguyên thủy .

Nghệ thuật hóa[sửa|sửa mã nguồn]

Biếng việc nữ công,
Muốn bề nhan sắc.
Rồi rẽ mi quang mặt phấn,
Sắm lo bên lục má hồng.
Răng đen cười hé nguyệt nga, lác ngờ hột đỗ,
Trán rộng vạch ngang vân trận, mẽ tựa hoa mai.
Nụ vàng giắt pha ngữ hạt trai,
Quạt ngọc điểm đồi mồi xương vích.
Biếc búp dong, tía rọc ráy, yếm chéo cánh, cạnh thêu,
Lục cổ vẹt, đỏ tiết dê, xống dang chân thắt đáy.
Tiếng thót ẻo à ẽo ợt,
Nết làm chuộng quý chuộng thanh.
Say mây mưa bàn tán mấy cơn, đón nhân tình bằng mèo thấy mỡ,
Đắm trăng gió lân la đòi đoạn, mệt thế sự tựa kiến sa dầu.
Chốc mòng quán Sở lầu Tần,
Chấp chới ả Diêu nàng Ngụy.
Quấn quýt sự anh sự ả,
Dập dìu tin bướm tin ong.
Làm bạn gửi, lấy chồng quyền, sụt sịt rằng tôi thương tôi thảm,
Đưa người lâu, rước khách mới, bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi.

— Lê Thánh Tông, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Giới hoa nương

Nhất
Nhị
Tam
Tứ

Chưa chồng nón thúng quai thao,
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai.
Chưa chồng yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.

Hỡi cô yếm thắm lòa lòa,
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm.
Ước gì anh được ở gần,
Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh.

Cái cốc mày lặn ao chà,
Bay lên rủ cánh làm nhà chị nương.
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đỗ làm tương anh đồ.
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.

Đi đâu đào liễu một mình,
Hai vai gánh nặng nhật trình đường xa.
Áo sồng em để trong nhà,
Ba vuông nhiễu tím phất phơ đội đầu.
Yếm điều em hãy còn màu,
Răng đen da trắng, mái đầu còn xanh.
Ở vậy làm sao cho đành,
Sao không kiếm chốn, thế tình mỉa mai.
Chữ rằng: Xuân bất tái lai,
Sách có chữ rằng: Xuân bất tái lai.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *