Áo bà ba – Wikipedia tiếng Việt

Áo bà ba là một loại trang phục phổ biến ở các miền quê miền Nam Việt Nam. Áo bà ba còn có tên gọi khác là áo Cánh.

Một số giả thiết về sự sinh ra của áo bà bà cho rằng :

  • Chiếc áo bà ba xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19, được Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Penang (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt.

Tuy nhiên trong Từ điển Pháp Việt [ 1 ] của Trương Vĩnh Ký, tác giả không hề nhắc đến “ áo bà ba ” .

Theo nhà văn Sơn Nam trong cuốn Nghi thức và lễ bái của người Việt Nam, trang 24:

Áo bà ba được du nhập vào khoảng cuối thế kỷ 19, Bà-ba là người Hoa lai người Mã Lai ở Mã Lai hoặc Singapore. Vải đen được nhập cảng khá tốt, người Nam Bộ thích mặc kiểu áo vải đen của người Bà-ba nên gọi là áo bà ba. Ngày nay, áo bà ba vẫn có thể gợi sự nghiêm túc nếu đừng loè loẹt, cần nhất là thái độ của người mặc.

Thực tế không có sắc tộc nào được gọi là người Bà Ba với nghĩa “ người Mã Lai lai Trung Quốc ”. Trên thực tiễn, chỉ có người Peranakan ( Trong tiếng Malaysia và Indonesia, chữ Peranakan đều có nghĩa đen là “ hậu duệ ”. Khái niệm người Peranakan có nghĩa là “ hậu duệ của những người Trung Quốc đến định cư ở những vùng thuộc địa của Anh quốc ở Khu vực Đông Nam Á. ” ), thường được gọi là Peranakan Chinese hay Baba-Nyonya, là hậu duệ của những người Trung Quốc nhập cư vào Malaysia từ thế kỷ 15 đến 17 .Từ ghép “ Baba-Nyonya ” cũng không phải dùng để chỉ người Bà Ba. Đây là từ dùng để gọi chung cho người Peranakan trong tiếng Malaysia ( và cả tiếng Indonesia ). “ Baba ” dùng để chỉ “ đàn ông ” còn Nyonya dùng để gọi “ phụ nữ ” ở hòn đảo Penang thời Malaysia còn là thuộc địa của Anh quốc .

Ở Malaysia, phụ nữ Peranakan có loại áo cánh khá giống với áo bà ba, gọi là kebaya. Ở Indonesia, người Peranakan cũng có loại áo gần giống với áo bà ba, gọi là kebaya encim (encim có nghĩa là “phụ nữ” trong tiếng Indonesia).

Tóm lại, trong những thế kỷ trước, áo bà ba đã Open tại Nước Ta. Thông qua việc kinh doanh, người Nước Ta hoàn toàn có thể đã giao lưu văn hóa truyền thống với người Peranakan, cải cách kiểu áo của họ để có được ” áo bà ba ” .

Áo bà ba thế kỷ 18-19[sửa|sửa mã nguồn]

Một cô gái trong bộ áo bà ba
Triển lãm tại Bảo tàng Phụ nữ Nước Ta tại Thành Phố Hà NộiĐối với những tầng lớp nhà quan lại, ngoài cách mặc áo ngũ thân trắng lót thì Áo sam trắng thường được phái đẹp nam bộ mặc lót trong áo ngũ thân ( lập lĩnh ) làm tiện phục, bên dưới xỏ hài, đội nón gụ, đeo kim xuyến, vòng cổ. Áo sam có nút buộc phía trong không lộ ra ngoài .Khi chưa có thuốc nhuộm hóa học, muốn nhuộm màu đen, màu nâu cho áo bà ba, người dân thường dùng lá bàng, vỏ trâm bầu, vỏ cây dà, cây cóc, vỏ sú vẹt hoặc trái dưa nưa … nhuộm rồi phủ bùn để chống trôi màu .

Khi có vải nhập cảng, thì lại dùng vải ú, vải sơn đầm, vải chéo go đen được sử dụng rộng rãi, vì tính tiện dụng, tối màu phù hợp với điều kiện lao động, đi lại nơi sông rạch, bùn lầy, dễ giặt và chóng khô.

Thế kỷ 20, phái đẹp mặc thêm áo túi trong ( áo sam không có túi ), một loại áo giống như áo sam nhưng ngắn tay dùng làm áo lót, thân áo cũng ngắn hơn và không xẻ nách, may hai túi to ở hai bên để cất món đồ vặt. Đôi khi ở nhà đàn bà cũng dùng mỗi áo túi mà không bận áo bà ba bên ngoài .

Đàn ông thì mặc áo lá tương đương với áo túi của đàn bà, kích thước càng ngắn nữa, không có tay nên hở nách, hai bên bụng cũng may hai túi. Bên ngoài mặc áo bà ba. Áo túi và áo lá từ thập niên 1950 trở đi lùi dần, không còn dùng làm áo lót nữa.[2]

Áo bà ba tân tiến[sửa|sửa mã nguồn]

Nút áo bà ba cũng phong phú và biến hóa theo mỗi quá trình. Trước đây, người ta thường sử dụng kiểu nút áo truyền thống lịch sử là nút bấm. Nhưng giờ đây, những loại nút đã được phát minh sáng tạo thêm nhiều mẫu mã làm tôn thêm điểm nhấn cho thân áo .Trải qua thời hạn, chiếc áo bà ba đã nhiều lần được cải cách cho tương thích với sự hoạt động của khung hình người mặc cũng như sự biến hóa về tư duy thời trang. Chiếc áo bà ba truyền thống lịch sử được những nhà thời trang nâng cấp cải tiến, vừa dân tộc bản địa, vừa đẹp và văn minh hơn .Áo bà ba lúc bấy giờ không thẳng và rộng như xưa mà được nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, người ta còn phát minh sáng tạo những kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay, riêng những kiểu cổ lá sen, cánh én, đan tôn …, được tiếp thu từ kiểu y phục quốc tế .Các kiểu ráp tay cũng được nâng cấp cải tiến. Từ kiểu may áo cánh xưa liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo .Vào thập niên 1970, những tỉnh, thành phía Nam thông dụng kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp tân tiến cho chiếc áo bà ba truyền thống lịch sử. Hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách .Áo bà ba vai raglan được may rất khít, vừa khít với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài hơn, hơi loe, hai túi ở vạt trước được bỏ đi để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại và mượt mà hơn. [ 3 ]

Trong âm nhạc[sửa|sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Leave a Reply

Your email address will not be published.